Sau khi Luật Dân số được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân số trong tình hình mới. Luật quy định các nội dung mang tính nguyên tắc và quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện các chính sách về dân số. Do vậy, việc ban hành nghị định hướng dẫn thi hành được xác định là khâu then chốt để Luật đi vào cuộc sống.

Tháo gỡ những "điểm nghẽn"

Việc ban hành Luật Dân số được nhìn nhận là bước tiến quan trọng trong hoàn thiện thể chế về công tác dân số trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều chính sách trước đây, để Luật đi vào cuộc sống, nếu không có những văn bản hướng dẫn cụ thể rất dễ bị “vướng” khi triển khai.

HC_Dso.jpg

Buổi thảo luận về dự thảo Nghị định thi hành Luật Dân số của chuyên gia Bộ Y tế.

Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết: “Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Dân số được xây dựng với bố cục 7 chương, đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các “điểm nghẽn” của các công tác dân số, từ điều chỉnh quy mô, cơ cấu, nâng cao chất lượng dân số, thích ứng với dân số già... Tất cả những “điểm nghẽn” này cho thấy, nếu chỉ dừng lại ở luật mà không có cơ chế cụ thể, thì chính sách dân số khó đạt hiệu quả. Các quy định này được thiết kế theo hướng không làm phát sinh quá nhiều nguồn lực mới, tận dụng hệ thống tài chính và nhân lực hiện có và đi thẳng vào những vấn đề nóng, tồn tại kéo dài trong thực tiễn công tác dân số hiện nay”.

Hiện dân số Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức như mức sinh giảm sâu và khó đảo ngược tại nhiều địa phương. Mức sinh giảm từ mức 2,11 con/phụ nữ (năm 2021) xuống còn 1,91 con (năm 2024) và còn khoảng 1,93 con (năm 2025). Xu hướng này không chỉ diễn ra ở các đô thị lớn, mà đã mở rộng sang cả những địa phương trước đây có mức sinh cao.

Các chuyên gia dân số cảnh báo, nếu không có giải pháp kịp thời, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036. Khi đó, lực lượng lao động bắt đầu suy giảm vào năm 2044 và tiến tới tăng trưởng dân số âm vào năm 2050.

Những con số này cho thấy, áp lực rất lớn đối với tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội trong dài hạn. Bên cạnh đó, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức cao và kéo dài. Tỉ số giới tính khi sinh năm 2024 là 111,4 bé trai/100 bé gái, vượt xa ngưỡng cân bằng tự nhiên. Nếu không kiểm soát tình trạng mất cân bằng này, đến năm 2039, Việt Nam có thể dư thừa khoảng 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi kết hôn.

Tốc độ già hóa dân số nhanh, đang đặt ra sức ép lớn lên hệ thống y tế, an sinh xã hội và thị trường lao động. Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 và dự kiến trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2038. Bên cạnh đó, chất lượng dân số hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, nơi tỷ lệ sàng lọc trước sinh và sơ sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số còn thấp...

Chuyển từ "định hướng" sang "hành động"

Tiến sĩ Lê Thanh Dũng, Cục trưởng Dân số (Bộ Y tế) cho biết, một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dân số là cụ thể hóa chính sách lớn của Luật thành những quy định có thể áp dụng ngay trong thực tiễn.

Trước hết, là chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con. Theo dự thảo, mức hỗ trợ hai triệu đồng cho mỗi trường hợp sinh con, tập trung vào các nhóm đối tượng cần khuyến khích như phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi hoặc ở địa bàn có mức sinh thấp.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định mức hỗ trợ sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số ngay từ giai đoạn đầu đời.

Đáng chú ý, lần đầu tiên, chính sách chăm sóc người cao tuổi cũng sẽ có những quy định cụ thể với các mô hình như câu lạc bộ chăm sóc người cao tuổi, điểm chăm sóc ban ngày. Điều này không chỉ giảm tải cho hệ thống y tế, mà còn phù hợp điều kiện gia đình và văn hóa Việt Nam.

Song song với đó là các biện pháp mạnh hơn nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, thông qua việc bổ sung chế tài và tăng cường kiểm soát các hành vi lựa chọn giới tính khi sinh.

Có thể thấy, hệ thống chính sách trong nghị định được dự thảo theo hướng toàn diện, bao trùm cả quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số.

Một trong những điểm đột phá của dự thảo Nghị định là quan tâm đội ngũ cộng tác viên dân số, đây là lực lượng nòng cốt trực tiếp triển khai chính sách tại cơ sở. Hiện tại, cả nước có hơn 136 nghìn cộng tác viên dân số, nhưng mức hỗ trợ còn thấp và không đồng đều giữa các địa phương. Do vậy, dự thảo đề xuất mức thù lao từ 0,3-0,5 mức lương cơ sở, tạo sự thống nhất trên toàn quốc và bảo đảm đời sống cho đội ngũ này.

Cùng với đó, Nghị định cũng làm rõ cơ chế tài chính, sự phân cấp hợp lý giữa Trung ương và địa phương. Đối với các địa phương khó khăn, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ để bảo đảm chính sách được thực hiện đồng bộ; đồng thời, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia công tác dân số.

Dự thảo Nghị định cũng phân rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương; phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong quản lý dân số. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu dân số đồng bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch.

Quan điểm xây dựng Nghị định cũng nhấn mạnh bảo đảm bình đẳng giới, quyền con người và quyền công dân phù hợp với yêu cầu của chính sách dân số trong giai đoạn mới.

Theo NDĐT